EnglishРусский한국어Deutsch繁體中文FrançaisItalianoहिन्दीفارسیTiếng ViệtEspañolالعربية

Wyckoff · 2025-04-04

Tái tích lũy Wyckoff: Hướng dẫn theo giai đoạn

Tái tích lũy là gì?

Tái tích lũy trong Wyckoff là kết quả của việc một xu hướng tăng cần trải qua một giai đoạn củng cố trước khi có thể tiếp tục tăng lên.

Tại điểm bắt đầu của một xu hướng tăng, CO kiểm soát thị trường, nhưng khi giá tăng cao hơn, nguồn cung tiềm năng từ công chúng bắt đầu xuất hiện.

Khi công chúng nắm giữ hàng tồn kho, họ sẽ muốn chốt lời ở mức giá cao, khiến CO khó đẩy giá lên hơn.

Tại thời điểm này, chúng ta nói rằng chất lượng sở hữu tài sản kém và thị trường cần khởi động lại quá trình hấp thụ để CO có thể tối ưu hóa hàng tồn kho của mình.

Cách hình thành tái tích lũyHình 1: Cách hình thành tái tích lũy

Trong một xu hướng tăng, chỉ có một giai đoạn tích lũy, nhưng sẽ xuất hiện nhiều giai đoạn tái tích lũy.

Khi mục tiêu giá của quá trình tích lũy chưa đạt được, một cấu trúc tái tích lũy được hình thành để bổ sung thêm cầu nhằm đẩy xu hướng tăng lên tới mức giá mục tiêu.

Phân tích một xu hướng tăng

Đà của một xu hướng tăng được thiết lập sớm trong giai đoạn E của cấu trúc tích lũy.

Hãy tạo thói quen vẽ đường xu hướng/kênh xu hướng dọc theo xu hướng hoặc đường xu hướng/kênh xu hướng ngược xu hướng để phân tích giai đoạn tăng giá.

Việc phân tích kênh giá tăng là một kỹ thuật cực kỳ quan trọng trong phương pháp Wyckoff, vì các điểm quá mua hoặc quá bán được thể hiện khi giá vượt qua các biên của kênh giá.

Khi giá nằm bên trong một kênh tăng:

Xu hướng tăng trên cặp tiền tệ USDCHFHình 2: Xu hướng tăng trên cặp tiền tệ USD/CHF

Hình 2 là một ví dụ hoàn hảo để phân tích xu hướng tăng trên cặp forex USD/CHF:

  1. Sau giai đoạn tích lũy, xu hướng tăng hình thành rõ ràng từ giai đoạn E, nhưng trên thực tế nó đã bắt đầu tại đáy của giai đoạn C (LPS).
  2. Một kênh giá tăng được vẽ từ ba điểm màu cam, đường cầu được vẽ trước từ hai điểm chạm đáy và đường cung được vẽ song song qua điểm chạm ở giữa.
  3. Giá tăng lên trên đường cung cho thấy quá mua (BC), nghĩa là xu hướng tăng dừng lại; đây không phải tín hiệu bán.
  4. Một giai đoạn tái tích lũy hình thành sau đó, với sự kiện Spring là điểm quá bán vượt qua đường cầu. Giá quay trở lại vào trong kênh giá là tín hiệu mua.
  5. Giá tiếp tục tăng với xu hướng tăng mạnh, thể hiện qua việc giá tiếp cận nhưng không chạm đường cầu. Trên thực tế, đó là một xu hướng tăng sau giai đoạn tái tích lũy nằm bên trong một kênh giá ngược xu hướng (đường nét đứt).
  6. Giá phá vỡ giả qua đường cung, cho thấy quá mua (BC). Xu hướng tăng dừng lại; đây không phải tín hiệu bán.
  7. Một giai đoạn phân phối hình thành sau đó, di chuyển ra ngoài đường cầu của cả hai kênh giá.

Cấu trúc tái tích lũy

Cấu trúc tái tích lũy tương tự như cấu trúc tích lũy, bao gồm 5 giai đoạn và các sự kiện. Điểm khác biệt duy nhất nằm ở cách nó bắt đầu hình thành.

Cấu trúc tích lũy bắt đầu bằng hành động dừng xu hướng giảm, trong khi cấu trúc tái tích lũy bắt đầu bằng hành động dừng xu hướng tăng.

Tái tích lũy có SpringHình 3: Các giai đoạn và sự kiện của cấu trúc tái tích lũy

Nhìn vào hình 3, chúng ta có một cấu trúc tái tích lũy điển hình với các giai đoạn và sự kiện như sau:

Giai đoạn A: Dừng xu hướng tăng

PSY (Preliminary supply)

Công chúng không còn nắm giữ hàng tồn kho vì sau giai đoạn tích lũy, họ đã bị CO hấp thụ hoàn toàn; họ chỉ có thể đuổi theo giá tăng dần theo đà tăng.

Trên đường đi lên, những người mua ngắn hạn trong công chúng bắt đầu chốt lời một cách thăm dò.

Đây là nỗ lực đầu tiên để dừng đà tăng giá, tuy nhiên nỗ lực này luôn thất bại vì đà tăng quá mạnh.

PSY có thể vượt qua kênh giá (với khối lượng lớn) hoặc có thể không.

PSY có thể xuất hiện hoặc có thể không. Nếu nó không xuất hiện, điều đó nghĩa là CO cảm nhận được nguồn cung mạnh và họ tham gia chốt lời, khiến PSY trở thành BC.

BC (Buying climax): Quá mua

Sau thất bại tại PSY, việc mua đuổi theo đà tăng với cầu mạnh do FOMO dẫn tới sự kiện cao trào mua BC, với biên độ mở rộng và khối lượng tối đa.

Đây chính xác là nơi CO và nguồn cung tiềm năng từ những người từng bị kẹt hàng tại các đỉnh trong quá khứ xuất hiện, khiến giá không thể tăng thêm mặc dù hầu hết trader nhỏ lẻ đang đổ xô mua vào theo xu hướng tăng.

Sự kiện này dễ nhận biết hơn nếu BC di chuyển ra ngoài kênh giá tăng.

Nguồn cung này tạo ra một đợt giảm lớn với biên độ mạnh, lớn hơn nhiều so với tất cả các đợt giảm trước đó (CHoB đầu tiên).

Sự xuất hiện của BC báo hiệu việc dừng xu hướng tăng (chưa phải tín hiệu bán).

Lưu ý rằng khối lượng tại BC không phải lúc nào cũng cao. Nếu tại PSY, xu hướng tăng phần lớn đã được CO hấp thụ, thì tại BC khối lượng sẽ nhỏ với biên độ thu hẹp dần.

AR (Automatic reaction)

Việc xu hướng tăng bị chặn đứng tại BC khiến giá phản ứng giảm xuống để tạo AR, thiết lập đáy thấp nhất của vùng giao dịch.

Tại AR, những người mua ngắn hạn tại đỉnh lo sợ thua lỗ nặng, khiến họ "nhả hàng tồn kho" vào tay CO.

CO dùng tiền của mình để hấp thụ mọi áp lực bán để giá không thể giảm sâu hơn nữa.

ST trong giai đoạn A: Kiểm tra thứ cấp

CO xuất hiện để hấp thụ cung, khiến giá bật trở lại lên trên, tạo ra CHoB thứ hai.

Khi chạm tới đỉnh BC cũ để kiểm tra cung và cầu, nó hình thành sự kiện ST và kết thúc giai đoạn A.

Tại đỉnh ST, giá thay đổi hành vi lần thứ ba, di chuyển xuống để bắt đầu giai đoạn B nhằm kiểm tra lại đáy AR.

3 CHoB = CHoCH → Giá chính thức thay đổi tính chất từ xu hướng tăng sang đi ngang.

Từ BC và AR, bạn có thể vẽ hai đường song song, đó là TR.

Tái tích lũy trên cặp tiền tệ NZDUSDHình 4: Tái tích lũy trên cặp tiền tệ NZD/USD

Trong hình 4, chúng ta thấy giá đạt trạng thái quá mua tại kênh giá đảo ngược (đường nét đứt) và bước vào giai đoạn đi ngang.

Trước đó đã có một lần quá mua tại một kênh giá dọc theo xu hướng nhỏ hơn, nhưng giá chỉ tạo ra hai CHoB trước khi tăng lên để tiếp tục xu hướng tăng. Nếu không có đủ ba lần thay đổi hành vi, chúng ta chưa thể vẽ TR trong vùng đó, và đó cũng là lý do tại sao chúng ta không nên bán ngay khi một cao trào mua xuất hiện.

Giai đoạn B: Xây dựng nguyên nhân

Giai đoạn B là khoảng thời gian giá liên tục kiểm tra cung và cầu tại biên trên và biên dưới của TR.

Giá có những biến động mạnh tạo ra bẫy tăng giá hoặc bẫy giảm giá tại vùng đỉnh và các phản ứng giảm xuống đáy TR; nguồn cung yếu sẽ bị loại bỏ bởi những biến động này.

Tất cả những hành động này diễn ra rất nhanh.

Tuy nhiên, giống như trong giai đoạn tích lũy, những biến động giá này giảm dần theo thời gian, cho thấy tính chất hấp thụ cung.

Thông thường, các đợt giảm xuống biên dưới sẽ mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành và khối lượng giao dịch sẽ thấp hơn sau mỗi đợt giảm.

Giai đoạn C: Kiểm tra cung tại đáy

CO bắt đầu rũ bỏ những người tham gia đang ở vị trí tại biên dưới bằng một sự kiện Spring (hình 5).

Tùy thuộc vào sức mạnh của cung, CO sẽ đưa ra quyết định tiếp theo:

Lưu ý: Tùy thuộc vào điều kiện thị trường, lượng cung còn lại và ý đồ của CO, một Spring trong cấu trúc tái tích lũy có thể xuất hiện hoặc có thể không.

Nếu không có Spring, giá chỉ tạo ra một LPS như trong hình 3. LPS này là một cú rũ bỏ của một giai đoạn tích lũy cục bộ nhỏ.

Giai đoạn D: Thể hiện sức mạnh

SOS (Sign of Strength)

Sau khi xác định cung thấp, CO dễ dàng đẩy giá lên để phá vỡ TR, tạo thành một SOS với biên độ rộng và khối lượng tăng lên, cho thấy cầu > cung.

Đây là CHoB đầu tiên.

SOS giai đoạn D cũng có thể được xem là JAC vì giá đã phá vỡ Creek.

Trong quá trình giá tăng lên để tạo SOS, sẽ có các nhịp điều chỉnh trên khối lượng nhỏ. Đó là các LPS và cũng là những điểm vào lệnh tốt.

LPS trong giai đoạn D: Điểm hỗ trợ cuối cùng

Sau khi phá vỡ TR, giá từ SOS điều chỉnh trở lại Creek để kiểm tra nguồn cung tiềm năng.

Giống như trong giai đoạn tích lũy, chúng ta gọi giai đoạn kiểm tra này là LPS hoặc BU. Đây là CHoB thứ hai.

Nếu lượng cung còn lại yếu, thể hiện qua khối lượng giao dịch nhỏ và biên độ giảm dần, CO sẽ đẩy giá lên tiếp vào giai đoạn E.

Đó là CHoB thứ 3.

3 CHoB = CHoCH → Giá chính thức thay đổi tính chất từ đi ngang sang xu hướng tăng.

Giai đoạn E: Xu hướng tăng bên ngoài TR

Giá phá vỡ đỉnh SOS và chính thức bước vào xu hướng tăng, với các SOS và LPS liên tiếp xuất hiện, tạo ra đỉnh cao hơn và đáy cao hơn.

Ví dụ: Chúng ta sẽ phóng to giai đoạn tái tích lũy của cặp forex USD/CHF trong hình 2 để phân tích cấu trúc điển hình này.

Cấu trúc tái tích lũy trên USDCHFHình 5: Cấu trúc tái tích lũy có Spring trên USD/CHF

  1. Trong quá trình phát triển của TR, khối lượng giảm dần từ giai đoạn A đến giai đoạn C → Quá trình hấp thụ cung đang diễn ra (chỉ báo Weis Volume sẽ được đề cập trong các bài viết sau).
  2. Tại giai đoạn C, cú rũ bỏ Spring khiến công chúng bán tháo trong hoảng loạn và những người mua tại vùng biên dưới bị chạm dừng lỗ. Sau đó, giá tăng lên và phá vỡ cả hai đường Creek bằng một cây nến thân dài trên khối lượng tăng lên.
  3. Điểm Spring này cũng là vị trí quá bán tại kênh giá tăng của khung thời gian lớn hơn (xem lại hình 2); sự hợp lưu này gợi ý một đợt tăng sau khi giá quay trở lại vào trong kênh giá.
  4. LPS và BU là những vị trí phù hợp để mở vị thế mua.

Dấu hiệu của tái tích lũy

Thực sự rất khó để phân biệt giữa cấu trúc tái tích lũy và phân phối, vì điều đó phụ thuộc vào nguồn cung tiềm năng trên thị trường.

Trong thời gian TR hình thành và phát triển, một nhà phân tích Wyckoff sẽ nghiên cứu các tín hiệu của giá (spread) và khối lượng để xác định xem đó có thể là một giai đoạn tái tích lũy hay một giai đoạn phân phối đang diễn ra.

Giống như trong giai đoạn tích lũy ban đầu, CO sẽ có chiến lược hấp thụ cung mỗi khi giá điều chỉnh xuống các mức hỗ trợ và họ sẽ dừng hoạt động mua khi giá tăng trở lại các mức kháng cự (ngoại trừ SOS).

Giá thường sẽ gặp khó khăn khi quay trở lại các mức hỗ trợ (ngoại trừ giai đoạn C), và điều này sẽ được phản ánh trên biểu đồ với biên độ giá thu hẹp và khối lượng giao dịch giảm dần (cung giảm dần).

Chúng ta sẽ nghiên cứu sự khác biệt so với phân phối chi tiết hơn trong các phần sau.

Các mô hình cấu trúc tái tích lũy

Cấu trúc tái tích lũy có nhiều hình thái và biến thể khác nhau. Tùy thuộc vào nguồn cung tiềm năng và ý đồ của CO, các dạng khác nhau được tạo ra.

Dưới đây là một số hình thái cấu trúc tái tích lũy thường thấy.

Dạng 1: Tái tích lũy có hành động Spring

Tái tích lũy loại 1: Có SpringHình 6: Tái tích lũy có hành động Spring

Mô hình này được gọi là Reaccumulation with Spring action. Đặc điểm:

Ví dụ về cổ phiếu $AMZN đang tái tích lũy trên khung thời gian 3D:

Cấu trúc tái tích lũy cổ phiếu AmazonHình 7: Cấu trúc tái tích lũy cổ phiếu Amazon

  1. BC quá mua xuất hiện, vượt qua kênh giá tăng với khối lượng giảm dần và biên độ hẹp → Cầu suy yếu và giá ngừng tăng.
  2. Tại các vị trí khoanh đỏ tương ứng với các đỉnh và giá rời khỏi mức đỉnh, khối lượng cao cho thấy áp lực cung tại thời điểm bắt đầu TR khiến giá giảm khá sâu.
  3. Tại các vị trí khoanh xanh tương ứng với các đáy và giá hồi phục từ các đáy, khối lượng cao cho thấy cầu mạnh về cuối TR.
  4. Cây nến kiểm tra Spring có khối lượng thấp hơn Spring, cho thấy cung đã cạn kiệt.
  5. Giá phá vỡ Creek bằng một cây nến thân dài đóng cửa gần đỉnh nến trên khối lượng lớn, tạo ra một SOS nhỏ, tiếp theo là một đợt điều chỉnh nhẹ, một LPS trên khối lượng nhỏ cho thấy cầu áp đảo cung.
  6. Tiếp theo, giá phá vỡ biên trên của TR tạo ra một SOS lớn trên khối lượng cao, cho thấy CO tiếp tục mua vào và hấp thụ toàn bộ lượng cung lớn tại biên trên; nhịp điều chỉnh LPS thậm chí không thể quay trở lại kiểm tra biên đó → Cung thực sự đã cạn kiệt.
  7. Các điểm phù hợp để mở vị thế mua là cây nến tăng sau giai đoạn kiểm tra, và các LPS.

Dạng 2: Tái tích lũy với thời gian hấp thụ dài

Tái tích lũy với thời gian hấp thụ dàiHình 8: Tái tích lũy với thời gian hấp thụ dài

Đây là mô hình Reaccumulation after shakeout. Đặc điểm:

Ví dụ về $BTC đang tái tích lũy trên khung thời gian 12h:

Cấu trúc tái tích lũy BitcoinHình 9: Cấu trúc tái tích lũy Bitcoin

Dạng 3: Tái tích lũy thể hiện sức mạnh

Cấu trúc tái tích lũy thể hiện sức mạnhHình 10: Cấu trúc tái tích lũy thể hiện sức mạnh

Đây là mô hình Reaccumulation with uprise:

Ví dụ về cặp tiền tệ NZD/USD với cấu trúc tái tích lũy thể hiện sức mạnh:

Tái tích lũy thể hiện sức mạnh trên NZDUSDHình 11: Tái tích lũy thể hiện sức mạnh trên NZD/USD

Dạng 4: Tái tích lũy sau một đợt giảm

Cấu trúc tái tích lũy sau một đợt giảmHình 12: Cấu trúc tái tích lũy sau một đợt giảm

Tên của mô hình này là Reaccumulation after decline. Đặc điểm:

Ví dụ về Vàng trên khung thời gian 2h với cấu trúc tái tích lũy sau suy yếu:

Tái tích lũy sau suy yếu - VàngHình 13: Tái tích lũy sau suy yếu - Vàng

  1. Cấu trúc tái tích lũy này bao gồm hai cấu trúc nhỏ: một cấu trúc phân phối cục bộ và một cấu trúc tích lũy có sức mạnh.
  2. Sự thiếu cầu không thể đẩy giá lên, khiến giá giảm ra khỏi TR đầu tiên.
  3. Tại TR thứ hai, khối lượng giảm ngay từ giai đoạn đầu; cầu xuất hiện và đẩy giá phá vỡ biên trên (vòng tròn xanh).
  4. Một cấu trúc cục bộ nhỏ hình thành tại biên trên; giá không thể chạm xuống biên dưới của TR.
  5. Giá tạo ra LPS đầu tiên (là một cú rũ bỏ trong cấu trúc cục bộ) với biên độ và khối lượng giảm dần, cho thấy cung đã cạn kiệt. Sau đó, giá tăng lên tạo ra LPS thứ hai với đỉnh cao hơn và đáy cao hơn.
  6. Các điểm vào lệnh phù hợp nằm tại cây nến tăng mạnh sau các LPS.

Ngoài ra, chúng ta còn có các biến thể TR chéo, sẽ được đề cập trong các phần sau.

5/5 - (2 bình chọn)

Chỉ báo JUKA tự động gắn nhãn swing, BOS, CHoCH, IDM và vùng cân bằng premium/discount trên biểu đồ BTC 4H

Đừng vẽ cấu trúc bằng tay nữa

Đây là JUKA trực tiếp trên BTC 4H — mọi swing, BOS, CHoCH, IDM và vùng cân bằng premium/discount đều được gắn nhãn tự động, theo thời gian thực.

Không bỏ lỡ cú phá vỡ nào. Không gắn nhãn sai. Không mất hàng giờ vẽ tay. Toàn bộ mã nguồn Trading Hub 3.0 (Pine Script v5) — sở hữu vĩnh viễn, $99 trả một lần. Hoặc $50/năm cho quyền truy cập invite-only trên TradingView.

Dùng thử miễn phí 3 ngày — liên hệ qua Telegram