EnglishРусский한국어Deutsch繁體中文FrançaisItalianoहिन्दीفارسیTiếng ViệtEspañolالعربية

Wyckoff · 2025-04-03

7 mô hình tích lũy Wyckoff (kèm biểu đồ)

Như đã học trong cấu trúc tích lũy, để hấp thụ cung và đẩy giá lên thành công, CO cần đảm bảo giá sẽ đi lên theo con đường ít kháng cự nhất.

Wyckoff nhận ra rằng cách CO làm điều này là tạo ra các hành động dụ công chúng bán hàng của họ hoặc khiến họ chạm dừng lỗ của các vị thế mua.

Cấu trúc tích lũy có nhiều hình thái và biến thể khác nhau; bài viết này sẽ tổng kết cho độc giả các mô hình phổ biến.

Cấu trúc mô hình tích lũy Wyckoff

Ôn lại ngắn gọn các giai đoạn và sự kiện của cấu trúc tích lũy:

Giai đoạn A: Dừng xu hướng giảm trước đó

Giai đoạn B: Hình thành nguyên nhân

Giai đoạn C: Kiểm tra (hoặc rũ bỏ)

Giai đoạn D: Xu hướng tăng trong TR

Giai đoạn E: Xu hướng tăng bên ngoài TR

Các mô hình tích lũy và biến thể

Các cấu trúc tích lũy có Spring và không có Spring được nhắc tới trong phần trước khá dễ nhận diện. Tuy nhiên, thị trường không phải lúc nào cũng tạo ra mô hình như chúng ta kỳ vọng.

Bên cạnh các trường hợp "sách giáo khoa", Wyckoff còn có một số dạng khác.

Phần lớn các hình thái tích lũy khác nhau là những trường hợp mà giá không nằm gọn gàng trong một TR thông thường.

Việc nghiên cứu các biến thể là không cần thiết vì chúng rất khó phát hiện.

Sẽ rất sai lầm nếu học thuộc mô hình một cách máy móc, nhưng nếu bạn có thời gian, hãy bật lịch sử biểu đồ và xem lại tất cả các cấu trúc tích lũy để luyện tập.

Khi gặp một cấu trúc không tuân theo một vùng giao dịch (Trading Range) thông thường, chúng ta có thể nghi ngờ và áp dụng một biến thể để dự đoán một giai đoạn C tiềm năng dựa trên ba quy luật Wyckoff.

Tích lũy loại 1: Có Spring

Cấu trúc tích lũy có SpringHình 1: Cấu trúc tích lũy có Spring

Đây là dạng mô hình tích lũy phổ biến, dễ nhận biết, gọi là Accumulation with Spring action. Đặc điểm:

Ví dụ về cấu trúc tích lũy có Spring trên cặp ADA/USDT:

Cấu trúc tích lũy có Spring trên đồng ADAHình 2: Cấu trúc tích lũy có Spring trên đồng ADA

  1. Khối lượng giảm dần trong nửa đầu của TR, rồi tăng dần về cuối. Đây là đặc điểm khối lượng thường thấy ở loại cấu trúc này.
  2. Tại ST thứ hai trong giai đoạn B, có lực cầu mạnh hỗ trợ (khoanh xanh). Vị trí này dễ bị nhầm lẫn với Spring. Tuy nhiên, sau khi giá tăng lên, chúng ta thấy spread giảm dần và khối lượng nhỏ, cho thấy người mua không hứng thú tiếp tục mua.
  3. Sau đó giá giảm mạnh với khối lượng cao, cho thấy ý đồ của CO là chủ động bán để kích hoạt tất cả các lệnh dừng lỗ của người mua trong TR.
  4. Vị trí này dễ bị nhầm lẫn với SOW của cấu trúc phân phối, nhưng đây là Spring vì ngay sau đó giá lập tức quay trở lại TR và giai đoạn Test Spring với khối lượng nhỏ cho thấy người bán đã suy yếu.
  5. Giá đi lên, vượt qua Creek với các cây nến tăng mạnh. Vị trí để mở vị thế là nhịp kiểm tra lại Creek với khối lượng giảm dần (LPS).

Tích lũy loại 2: Không có Spring

Cấu trúc tích lũy có LPSHình 3: Cấu trúc tích lũy có LPS

Cũng là một dạng cấu trúc tích lũy phổ biến. Đặc điểm:

Ví dụ về việc hấp thụ cung trên cổ phiếu WDC không có Spring:

Cấu trúc tích lũy không có Spring trên cổ phiếu WDCHình 4: Cấu trúc tích lũy không có Spring trên cổ phiếu WDC

  1. Khối lượng giao dịch tại PS cao nhưng giảm tại SC và ST, cho thấy người bán đã kiệt sức.
  2. Cấu trúc này cho thấy người mua hấp thụ cung tại một mức giá dưới PS khi giá nằm dưới PS trong một khoảng thời gian với khối lượng giảm dần, rồi đột ngột tăng lên với một cây nến mạnh.
  3. Giá tăng lên kiểm tra biên trên của TR với các cây nến tăng mạnh cùng với khối lượng tăng cao, cho thấy sự kiểm soát của người mua.
  4. Phát hiện một LPS tiềm năng trong giai đoạn C khi sóng giảm có khối lượng giảm dần. Điểm LPS này cũng có mức giá thấp hơn PS, nơi CO đã hấp thụ cung trước đó, gợi ý đây là một nhịp kiểm tra cung.
  5. Chúng ta có thể vẽ một đường Creek tại đây sau khi giá tăng lên từ LPS tiềm năng với khối lượng tăng cao. Điểm vào lệnh nằm sau một cây nến tăng mạnh có giá đóng cửa gần biên trên.

Ví dụ trên cho thấy tầm quan trọng của PS. Việc phát hiện CO muốn hấp thụ dưới mức giá PS là rất quan trọng để xác định thiên hướng.

Tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu các mô hình tích lũy khác chỉ mang tính tham khảo.

Nguyên nhân của các biến thể có thể do yếu tố tin tức hoặc CO đánh giá sai nguồn cung tiềm năng, khiến việc hấp thụ không diễn ra như kỳ vọng và giá phải tìm kiếm các vùng TR cục bộ thay vì hấp thụ tại TR chính.

Biến thể loại 1: Mô hình vai đầu vai ngược

Mô hình tích lũy vai đầu vaiHình 5: Mô hình tích lũy vai đầu vai

Đây là mô hình đảo chiều vai đầu vai quen thuộc. Tùy thuộc vào độ dài của ST trong giai đoạn B, có một số tên gọi khác như mô hình cốc và tay cầm, chén thánh, … Đặc điểm:

Ví dụ về cặp NZD/USD với mô hình tích lũy vai đầu vai ngược:

Mô hình tích lũy vai đầu vai ngược trên cặp NZD/USDHình 6: Mô hình tích lũy vai đầu vai ngược trên cặp NZD/USD

  1. Giá không tôn trọng TR được tạo bởi SC & AR mà giảm mạnh, phá vỡ biên dưới vào giai đoạn B, rồi hình thành một cấu trúc tích lũy cục bộ với khối lượng giảm dần về cuối (Local LPS với khối lượng thấp).
  2. Giá phá vỡ TR cục bộ và đi lên kiểm tra lại ST biên trên, rồi giảm xuống tạo ra một giai đoạn rũ bỏ qua một đường biên được vẽ từ SC, cho thấy đây là một LPS tiềm năng.
  3. Tại LPS tiềm năng, khối lượng giảm mạnh, chứng minh cung đã cạn kiệt; một cây nến tăng mạnh xuất hiện với khối lượng tăng cao, gợi ý mở vị thế mua.

Biến thể loại 2: Mô hình suy yếu tiếp diễn

Cấu trúc tích lũy theo mô hình nêm giảmHình 7: Cấu trúc tích lũy theo mô hình nêm giảm

Mô hình này được gọi là Continuous Weakness Trading Range hay mô hình nêm giảm. Đặc điểm:

Ví dụ về cấu trúc tích lũy theo mô hình hai đường hội tụ trên chỉ số SP500:

Cấu trúc tích lũy theo mô hình nêm giảm SP500Hình 8: Cấu trúc tích lũy theo mô hình nêm giảm trên SP500

  1. Giá đi trong một nêm giảm được tạo bởi hai đường hội tụ bao gồm: một đường cầu đảo ngược và một đường cung xuôi.
  2. Giá bị nén trong nêm, với khối lượng đỏ chiếm đa số. Đến cuối nêm và khi phá vỡ lên trên ra khỏi nêm, khối lượng xanh mới xuất hiện.
  3. Các LPS được tạo ra với khối lượng nhỏ cho thấy sự vắng mặt của cung.
  4. Đường VWAP đóng vai trò như một đường hỗ trợ tại các vị trí LPS, gợi ý mở vị thế mua (chỉ báo VWAP sẽ được nhắc tới trong các phần sau).

Biến thể loại 3: Hấp thụ nâng cao

Cấu trúc tích lũy theo mô hình hai đáyHình 9: Cấu trúc tích lũy theo mô hình hấp thụ nâng cao

Mô hình này có cái tên khá hoa mỹ: mô hình Advanced Absorption (Absorption at higher level Trading Range). Đây có thể được xem là mô hình hai đáy — một mô hình đảo chiều quen thuộc.

Đặc điểm:

Ví dụ về mô hình tích lũy hấp thụ nâng cao trên cặp NZD/USD:

Cấu trúc tích lũy hấp thụ nâng cao NZD/USDHình 10: Cấu trúc tích lũy hấp thụ nâng cao NZD/USD

  1. Chúng ta thấy khối lượng từ SC đến ST tăng lên, cho thấy cung vẫn còn dồi dào. Tuy nhiên, sau đó giá không tiếp tục giảm mà tăng lên biên trên, cho thấy khối lượng tại ST phần lớn là cầu ẩn của CO đã hấp thụ toàn bộ cung tại đó.
  2. Tại đỉnh của cấu trúc cục bộ trong vùng UA, hiện tượng shortening of thrust xuất hiện và khối lượng cầu giảm dần, báo hiệu giá ngừng tăng (Quy luật Nỗ lực và Kết quả).
  3. Giá giảm trở lại vào trong TR với khối lượng cao, rồi giảm dần nhưng không chạm biên dưới.
  4. Tại đây, giá không phá vỡ vùng VAL của Volume Profile mà quay trở lại.
  5. Xác định đây là một LPS tiềm năng trong giai đoạn C vì giá tăng trở lại với khối lượng tăng lên, phá vỡ POC của Volume Profile.
  6. Một điểm vào lệnh an toàn là LPS sau một cây nến tăng mạnh.

Biến thể loại 4: Tích lũy có sức mạnh

Cấu trúc tích lũy thể hiện sức mạnh vượt trộiHình 11: Cấu trúc tích lũy thể hiện sức mạnh vượt trội

Đây là mô hình Extra Strength Trading Range; giá nằm trong một kênh giá tăng (hoặc cờ tăng), thậm chí còn mạnh hơn mô hình hấp thụ nâng cao. Đặc điểm:

Ví dụ về cấu trúc tích lũy thể hiện sức mạnh trên XAU/USD:

Cấu trúc tích lũy có sức mạnh XAU/USDHình 12: Cấu trúc tích lũy có sức mạnh XAU/USD

  1. Sau khi có lực cầu mạnh hỗ trợ giá tại SC, giá vàng đi trong một kênh giá tăng thay vì một vùng đi ngang, cho thấy người mua đang kiểm soát.
  2. Kênh giá tăng được xác định từ ba điểm SC, ST, AR.
  3. Tại thời điểm giá từ UA quay trở lại vào trong TR và chạm đường cầu, đây là vùng giao nhau giữa TR và kênh giá. Quan sát thấy khối lượng giảm trong vùng này, nó có thể là một LPS tiềm năng trong giai đoạn C.
  4. Tại LPS, đó cũng là điểm hợp lưu giữa POC của Volume Profile và đường cầu. Chúng ta có thể vẽ Creek tại đây.
  5. Một cây nến tăng mạnh sau đó tăng lên trên POC với khối lượng cao; tuy nhiên, giá dừng lại tại đường biên trên của TR, khiến nhà đầu tư do dự và không dám vào lệnh.
  6. Một điểm vào lệnh phù hợp là LPS thứ hai khi giá quay trở lại kiểm tra biên trên với khối lượng thấp.

Biến thể loại 5: Mô hình đáy tròn

Cấu trúc tích lũy đáy trònHình 13: Cấu trúc tích lũy đáy tròn

Mô hình này còn được gọi là hình chữ U, hình đĩa, mô hình đáy tròn…

Đặc điểm tương tự như hình thái vai đầu vai ngược hoặc suy yếu tiếp diễn, nhưng việc hấp thụ cung diễn ra chủ yếu trong cấu trúc cục bộ dưới TR chính.

Biến thể này không thường xuyên gặp và dễ bị nhầm lẫn với vai đầu vai ngược.

Ví dụ về mô hình tích lũy đáy tròn trên cặp XAU/USD:

Biến thể đáy tròn XAU/USDHình 14: Biến thể đáy tròn XAU/USD

Ngoài các dạng trên, chúng ta còn có các biến thể vùng giao dịch chéo (diagonal Trading Range) sẽ được nghiên cứu riêng trong các phần sau.

Lưu ý: Đừng cố gắng đánh dấu tất cả các sự kiện và giai đoạn của các biến thể. Thay vào đó, hãy tìm một giai đoạn C tiềm năng và quan sát hành động giá để linh hoạt xác định thiên hướng.

Các biến thể về bản chất là sự nối tiếp nhau của các cấu trúc TR thông thường. Chúng ta hoàn toàn có thể phân tích từng cấu trúc cục bộ riêng lẻ nếu không nhận ra dạng nào đang phát triển.

5/5 - (3 bình chọn)

Chỉ báo JUKA tự động gắn nhãn swing, BOS, CHoCH, IDM và vùng cân bằng premium/discount trên biểu đồ BTC 4H

Đừng vẽ cấu trúc bằng tay nữa

Đây là JUKA trực tiếp trên BTC 4H — mọi swing, BOS, CHoCH, IDM và vùng cân bằng premium/discount đều được gắn nhãn tự động, theo thời gian thực.

Không bỏ lỡ cú phá vỡ nào. Không gắn nhãn sai. Không mất hàng giờ vẽ tay. Toàn bộ mã nguồn Trading Hub 3.0 (Pine Script v5) — sở hữu vĩnh viễn, $99 trả một lần. Hoặc $50/năm cho quyền truy cập invite-only trên TradingView.

Dùng thử miễn phí 3 ngày — liên hệ qua Telegram